Báo khói Hochiki và phân loại đầu báo khói chuẩn chỉnh nhất

 Đầu báo khói Hochiki là 1 dòng cảm ứng báo cháy được không ít khách hàng tại việt nam, chiếm gần 1/2 tỷ lệ cảm biến báo cháy đang làm việc trong những khối hệ thống PCCC.
Báo khói Hochiki đến với người tiêu dùng bằng chất lượng & giá thành đối đầu và cạnh tranh đc bảo vệ bởi chính Brand Name đến từ nhật bản. Báo khói Hochiki hoạt động với hiệu suất tối đa, hiếm hoi xảy ra lỗi, là 1 trong những thiết bị có tầm quan trong bậc nhất trong cảm ứng sự cố, phát hiện chính xác, tỉ lệ báo cháy giả rất là thấp so với tương đối nhiều Brand Name khác.

==>> Tham khảo:    phongchaythanglong.vn/báo-cháy-hochiki-2-1-123922.html

Đầu báo khói nói chung và báo khói Hochiki nói riêng, là các dòng thiết bị dùng để làm bắt gặp khói, tín hiệu mở màn của sự cố cháy. Khi phát hiện được khói, những đầu báo sẽ phát tín hiệu về trung tâm báo cháy, như 1 thông điệp là sắp có sự cố cháy xảy ra. một số trong những loại sử dụng cho mái ấm gia đình thì có thể phát ra âm thanh báo động tại chỗ khi có cháy.

 

 


dòng thiết bị báo cháy Hochiki – dòng thiết bị báo cháy báo khói tự động chất lượng cao

 

Xét về hình dáng:

Báo khói có hình dạng theo pháp luật của hãng sản xuất, tuy vậy thường đặt trong một vỏ nhựa hình đĩa có đư ờng kính khoảng 100 mm (4 inch) hoặc 150 mm (6 inch).

cũng giống như những laoij đầu báo khói khác, báo khói Hochiki cũng có 2 loại 2 dây và 4 dây, được tính theo số dây 2 lõi hoặc 4 lõi nối với tủ trung tâm.

Báo khói 2 dây thường sử dụng nguồn DC24V, là đầu báo đc cấp nguồn và truyền tín hiệu trên cùng 1 đôi.

Báo khói 4 dây là đầu báo được cấp nguồn riêng với đường tín hiệu.

Độ nhạy của đầu báo khói:

Độ nhạy của đầu báo khói được giám sát và đo lường chuẩn mức bởi Độ u ám (Obscuration – Obsc hay độ đục).

Độ sầm uất là hiệu ứng mà khói làm giảm góc nhìn của của đầu dò. Độ mờ mịt càng lớn thì nồng độ hói càng nhiều.

 

 

nhấp chuột Ảnh để xem Bảng Giá đầu báo khói cháy Hochiki

 

Theo chuẩn mức thì độ nhạy của các loại đầu báo khói như sau:

Phân loại đầu báo khói Hochiki

1.1. Đầu báo khói ion hoá (Ionization detector):

Đầu báo khói ion hoá (còn gọi là báo khói ion) sử dụng một chất đồng vị phóng xạ như Americium 241 (nguồn phát hạt alpha – α) để tạo ra sự ion hoá trong không khí.

Đầu báo khói ion có độ nhạy cao trong giai đoạn cháy rực (khói không nhìn thấy) hơn so với đầu báo khói quang, trong những lúc đầu báo khói quang lại phát hiện tốt những đám cháy trong giai đoạn đầu âm ỉ.

Buồng thu khói (smoke chamber) hay còn gọi là buồng ion hoá (ionization chamber) có cấu tạo quan trọng để bụi & côn trùng khó lọt vào được, nhưng khói rất có thể đơn giản và dễ dàng đi vào

Trong buồng thu khói có một lượng nhỏ chất phóng xạ Americium 241 và 2 điện cực (hình 1.1). Chất phóng xạ sản sinh ra những ion mang điện trong không gian. Một điện thế được đặt giữa 2 điện cực khiến cho các ion di dời về các điện cực khác dấu tạo ra một dòng điện trong mạch của đầu báo.

Nếu có một số phần tử của khói chui vào buồng ion hoá, những ion sẽ phối hợp với các phần tử khói làm giảm dòng điện giữa 2 điện cực. Một mạnh bắt gặp sự suy giảm dòng đi ện và phát tín hiệu báo động. Ở trạng thái báo động, đèn LED trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ đc chuyển về trung tâm báo cháy.

Đầu báo ion có giá bán sản xuất rẻ hơn đối với đầu báo khói quang, nhưng dễ khiến ra hiện tượng báo giả, nó chỉ tương thích với đám cháy có các hạt khói quá nhỏ nhắn (khói không nhìn thấy được).

1.2. Đầu báo khói quang điện (Photoelectric Smoke Detector):

Đầu báo khói quang điện hay còn được gọi là   centrally manage thiết bị báo cháy hochiki – Phòng cháy Thăng Long  đầu báo khói quang gồm 1 nguồn sáng nhỏ (LED phát hồng ngoại), một thấu kính hội tụ ánh sáng thành chùm tia và một cảm biến quang điện (photoelectric hoặc photodiode) đặt lệch góc với chùm tia hồng ngoại.

Tất cả những bộ phận bên trên đây đc đặt trong một buồng quang học (optical chamber) hay có cách gọi khác là buồng khói. Hình 1.2 mô tả cấu tạo cơ bản của đầu báo khói quang.

Buồng quang học (1) có kết cấu đặc biệt quan trọng để ánh sáng bên ngòai không thể lọt vào được, nhưng khói rất có thể đơn giản đi vào. phía bên ngoài của buồng quang học có một lớp lưới để ngăn bụi và côn trùng chui vào phía bên trong.

Trong trường hợp thông thường (không có khói), chùm tia sáng được tạo thành từ đèn

phát hồng ngoại (5) đi theo đường thẳng không đến được đầu cảm ứng quang (4).

Khi có khói vào phía bên trong buồng quang học ngang qua đường đi của chùm tia hồng ngoại, một vài tia sáng bị khuyếch tán bởi những hạt khói đi đến đầu cảm biến quang (4) and kích hoạt báo động. Khi đó, mạch điện sẽ chuyển tín hiệu hồng ngọai (quang) thành tín hiệu điện (báo động). Ở trạng thái báo động, đèn LED trên đầu báo sẽ sáng đồng thời tín hiệu sẽ được truyền về tủ báo cháy.

Đầu báo khói quang phát hiện tốt đám cháy âm ỉ. Đầu báo khói quang phản ứng chậm hơn đầu báo ion với đám cháy bùng phát nhanh, nhưng thử nghiệm và nghiên cứu cho biết đầu báo khói quang phục vụ đc tất cả những loại cháy and có tuổi thọ cao hơn.

thời nay, một số trong những đầu báo khói quang tiến bộ có độ nhạy không nhỏ, bao che phạm vi của đầu báo khói ion and có thể thay thế hoàn toàn cho đầu báo ion. rõ ràng đầu báo khói của Hochiki có độ nhạy từ 0.5-3.8%/ft, trong những khi độ nhạy chuẩn mức của đầu báo ion là 0.8–1.5% obs/ft and của đầu báo quang là 2–4% obs/ft.

đối chiếu giữa đầu báo khói quang and báo ion

Đầu báo quang điện phục vụ nhanh hơn (thường là 30 phút hoặc hơn) trong giai đoạn âm ỉ trước khi thành ngọn lửa. Khói trong giai đoạn âm ỉ thường tạo nên các hạt đốt lớn giữa 0.3 và 10 micron.

Đầu báo ion hoá đáp ứng nhanh hơn (thường là 30-60 giây) trong giai đoạn lửa rực rỡ (rực lửa). Khói trong giai đoạn rực lửa thường tạo ra các hạt đốt bé dại – giữa 0.01 and 0.3 micron.

không dừng lại ở đó đầu báo ion hoá hoạt động và sinh hoạt yếu trong môi trường thiên nhiên có luồng gió mạnh, and vì đi ều này đầu báo quang điện là tin cậy hơn để phát hiện khói trong cả 2 tình huống cháy âm ỉ and cháy rực lửa.

Tháng 6/2006, Australasian Fire and Emergency Service Authorities Council, cơ quan đại diện tối đa cho những tổ chức cứu hoả Australia & New Zealand tuyên bố: “báo khói ion hóa không hề hoạt động và sinh hoạt trong khoảng time để chú ý đủ sớm cho tất cả những người cư ngụ thoát khỏi đám cháy âm ỉ”

Đầu ion phát hiện xuất sắc đám cháy không có khói (khói không nhìn thấy được)

Sự hiện diện của chất phóng xạ Americium-241 trong đầu báo ion hoá, có nghĩa rằng tất cả các đầu báo khi hết thời hạn hoạt sinh hoạt phải đc xử lý để hạn chế tạo nên mối nguy khốn so với môi trường thiên nhiên. một số nước đã cấm sử dụng đầu báo khói ion.

Đầu báo khói quang đơn giản trong các công việc thay thế gia hạn, đ ầu báo ion có chất phóng xạ nên không hề mở buồng ion để lau chùi, thay thế sửa chữa đc.

Đầu ion sẽ báo gỉa nếu đc lắp đặt tại nơi có luồng khí mạnh thổi qua.

Đầu báo khói quang có tuổi thọ cao hơn đầu báo khói ion.

1.3. Đầu báo khói quang dạng tia (Projected Beam Detector)

những đầu báo như biểu đạt ở phần trên gọi là đầu báo khói điểm (spot detector).

Với khu vực bảo đảm an toàn có diện tích S lớn, trần cao nơi mà đầu báo khói điểm khó lắp đặt & gia hạn, chẳng hạn như phòng t ập thể dục, giảng đường sẽ dùng đầu báo khói quang dạng tia (đầu báo beam). Có 2 loại đầu báo khói tia: loại thu – phát & loại phản xạ.

Đầu báo khói tia loại thu – phát: bao gồm 1 đầu phát (T) and một đầu thu (R) hồng ngoại lẻ tẻ lắp đối diện với nhau trong khoanh vùng cần bảo đảm.

Đầu báo khói tia loại phản xạ: bao gồm 1 đầu báo phối hợp thành phần phát và phần tử thu trong cùng một vỏ & tấm phản xạ lắp đối diện với đầu báo trong Quanh Vùng cần bảo đảm an toàn.

Chiều dài đảm bảo của đầu beam là khoảng cách giữa đầu thu and đầu phát, hoặc giữa đầu báo & tấm phản xạ.

Đầu báo beam hoạt động dựa trên nguyên tắc làm mờ ánh sáng (light obscuration). Ở ĐK môi trường xung quanh sạch, không tồn tại khói, chùm tia hồng ngoại từ đầu phát (Transmiter) sẽ đến bộ phận cảm nhận ánh sáng đặt tại đầu thu (Reveiver) với cùng 1 cường độ 100%. điều này đc hiểu là độ làm mờ 0%, nói một các khác tất cả tia hồng ngoại đến đc đầu thu.

Đầu báo beam được điều chỉnh độ nhạy theo mức đc cấu hình thiết lập sẵn, tính theo phần trăm Tỷ Lệ của độ che mờ trọn vẹn chùm tia chứ Chưa hẳn theo tỷ lệ hiện diện (nồng độ) của khói. Mức độ nhạy này, được xác định bởi đơn vị sản xuất, tùy thuộc vào chiều dài đảm bảo an toàn của đầu báo. Ví dụ: Khi đặt đầu báo có độ nhạy 25%, Có nghĩa là khi 25% tín hiệu của tia bị làm mờ bởi khói, đầu báo sẽ chuyển sang tình hình báo động.

Khi có cháy, khói từ đám cháy bay lên đi vào Quanh Vùng đảm bảo an toàn, cắt ngang đường hồng ngoại của đầu báo sẽ làm suy giảm tín hiệu hồng ngọai tới đầu thu. Khi độ làm mờ đạt tới mức ngưỡng báo động được đặt trước, đầu báo sẽ phát một tín hiệu báo động cháy.

Nếu đầu thu hoàn toàn không nhận được tia hồng ngọai (đầu phát bị hư, hoặc đứt dây, hoặc tia hồng ngọai bị che khuất 100%,…) đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi (trouble) để hạn chế báo giả.

 

Sự biến hóa chậm của độ che mờ xảy ra, do bẩn hoặc bụi bên trên thấu kính của đầu báo, sẽ đc bù trừ bởi một mạch vi điều khiển với chức năng đo lường thường xuyên cường độ tín hiệu và định kỳ hiệu chỉnh ngưỡng báo động và báo lỗi. Khi mạch tự bù trừ của đầu báo đạt đến ngưỡng giới hạn của chính nó, đầu báo sẽ phát tín hiệu báo lỗi, dấu hiệu yêu cầu dịch vụ gia hạn.

 

khoảng cách bảo đảm của đầu beam từ vài mét đến 100 mét (hoặc nhiều hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhà sản xuất), do vậy đầu báo dạng beam rất thích hợp để bảo vệ ở các nơi có diện tích S lớn, góc nhìn không trở nên che khuất.

 

Theo NFPA72, đầu báo beam rất có thể đảm bảo một diện tích S có chiều dài cao nhất 100 m (330 ft) và khoảng cách theo chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) tối đa 18 m (60 ft), tương đương 1,800 m2 (19,800 sqft), trong những khi đầu khói điểm có diện tích S bảo đảm an toàn tối đa 83m2 (900 sqft).

 

Theo BS5839 part 1: Đầu khói điểm có đường kính bảo đảm cao nhất 7.5 m, khoảng cách cao nhất giữa 2 đầu báo là 10.5 m tương đương diện tích 110.25m2. Đầu báo beam có thể chấp nhận được đảm bảo an toàn một diện tích S có chiều dài cao nhất 100 m & chiều ngang (với tia hồng ngoại ở giữa) tối đa 15m, tương đương diện tích bảo đảm 1,500 m2.

1.4. Đầu báo khói lắp trên đường ống – Duct smoke detector

 

Đầu báo Duct cung ứng khả năng phát hiện sớm khói and sản phẩm cháy có trong không khí dịch rời theo đường ống của hệ thống HVAC (HVAC là chữ viết tắt tiếng Anh của: H = Heating – hệ thống sưởi ấm; V = Ventilation – hệ thống thông gió; AC = Air Conditioning – hệ thống điều hòa không khí).

Có 2 ống nhỏ tuổi được lắp nhô vào bên phía trong đường ống của khối hệ thống HVAC, một ống có những lỗ khoan theo chiều dọc lắp ngược hướng dòng khí chuyển động để thu không gian đưa vào đầu báo Duct đc gọi là ống lấy mẫu (Sampling Tube), một ống còn lại đưa không khí ra khỏi đầu báo (Exhaust Tube).

 

Một đầu báo khói lắp phía bên trong đầu duct có nhiệm vụ bắt gặp khói và phát tín hiệu báo động về trung tâm báo cháy hoặc trải qua các relay điều khiển những lá chắn (Damper) của hệ thống HVAC hoặc các thiết bị khác.

1.5. Đầu báo khói độ nhạy cao – Aspirating Smoke Detector hoặc Air Sampling Detechtor (ASD)

Đầu báo khói độ nhạy cao – ASD hay còn gọi là VESDA dùng cho những khu vực quan trọng đòi hỏi báo cháy có độ nhạy rất cao, nơi mà nguồn lửa rất khó phát hiện, yêu cầu chỉ một lượng khói rất mỏng dính phải được phát hiện ngay.

Một hệ thống ASD gồm 1 dòng thiết bị dò khói trung tâm có tác dụng hấp dẫn không khí bằng máy hút khí & một mạng ống nhỏ lắp trong khu vực cần bảo đảm. các lỗ mẫu (Sampling Point) được khoan vào mỗi ống trong theo khoảng cách tương thích. không khí tiếp đến thường xuyên bị hút vào khối hệ thống đường ống trải qua các lỗ, hướng đến thiết bị dò trung tâm để nghiên cứu và phân tích & kiểm tra.

Khác với những đầu báo khói thường thì là dòng thụ động, khối hệ thống ASD phân tích không gian trong time thực & thuộc loại chủ động. kiến tạo của ASD có thể chấp nhận được thu thập mẫu không khí / khói thông qua khối hệ thống đường ống and dẫn về bộ cảm ứng trung tâm.

Độ nhạy cao cùng với chủ động tích lũy mẫu khói cho phép bắt gặp cháy ở giai đoạn rất sớm. điều ấy cực kỳ cần thiết trong số những trường hợp môi trường xung quanh có ngóc ngách làm loãng khói & che khuất bao quanh.

Nguồn: Tổng hợp trên mạng

 

Post Author: Nguyễn Hiệp